Trí đãng nhưng minh triết

HOÀNG THỤY ANH

Ngô Kha là một trí thức yêu nước với số phận bi kịch, là nhà thơ để lại dấu ấn khá độc đáo. Dưới thời chính quyền Sài Gòn, Ngô Kha đã ba lần bị bắt. Lần bị bắt thứ ba (vào ngày 30-1-1973) và cái chết của Ngô Kha đến bây giờ vẫn là một ẩn số. Những sáng tác của ông để lại như Hoa cô độc (thơ – 1961), Ngụ ngôn của người (trường ca – 1969), Trường ca Hòa bình (Đất nước, số 12/1969, Sài Gòn) luôn được người đọc chú ý. Ngụ ngôn của người đãng trí là trường ca pha nhuốm yếu tố siêu thực. Nếu Hoa cô độc tuy buồn, cô đơn nhưng vẫn là những tâm sự nhẹ nhàng thì sang Ngụ ngôn của người đãng trí, thơ không còn là tiếng nói của lí trí tỉnh táo mà là tiếng nói của người đãng trí, do vậy, chiều kích của cô đơn được nới giãn đến tột cùng và khát vọng tự do trào lên tột đỉnh.ngo kha Trí đãng nhưng minh triết

Mở đầu trường ca, Ngô Kha viết: Bây giờ tôi mang hoa đến dòng sông/ đọc diễn văn truy tặng người đãng trí. Tuy nhiên, chúng ta vẫn nhận thấy nhân vật tôi, trên bề mặt văn bản, dù đứng tách biệt với người đãng trí, người say rượu, người hành khất,… nhưng thực chất có sự tương đồng, tương giao. Hay nói cách khác, tiếng nói của những nhân vật đó, thực chất, chính là hiện thân cho tiếng nói của nhân vật tôi. Thủ thuật phân thân này phù hợp với mạch chảy vô thức, với cái nhìn của người đãng trí, phù hợp với sự đối lập giữa thực và mộng, và đặc biệt là, phù hợp với nỗi lòng của một trí thức yêu nước nhưng không thể tự do công khai ngôn luận bởi sự kiểm duyệt gắt gao của chính quyền Sài Gòn đương thời.

Qua lăng kính của người đãng trí, hiện thực bị phân mảnh, nhòe mờ. Nhất là, những thi ảnh vốn dĩ xa lạ nhau nay lại trú ngụ trong một ngôi nhà, cùng hành trình vào một thế giới ma mị, kì ảo, đối nghịch hoàn toàn với thực tại hiện tồn. Những hình ảnh trong Ngụ ngôn của người đãng trí đa phần không chịu bất kì sự kiểm duyệt nào của lí trí, thẩm mĩ, đạo đức, tư tưởng,… mà chỉ phục tùng sức mạnh của dòng chảy vô thức. Bằng thủ thuật phân thân, nhà thơ phá vỡ trật tự tuyến tính, dịch chuyển từ cõi vô hình này đến cõi vô hình khác, nhờ thế, khi chạm vào tám phần trong trường ca là người đọc chạm đến thế giới thi ảnh loạn nhịp, lạ lẫm.

Freud cho rằng, vô thức được xây dựng bằng các giấc mơ. Các nhà siêu thực lại xem sự tồn tại của các giấc mộng là cơ sở để khẳng định cái tôi, cái bản ngã thuần khiết nhất. Ngô Kha đã đem thời gian đổi lấy chiêm bao, cất lên khúc hát ngu ngơ và nói bằng âm hao của người đãng trí để che giấu mạch ngầm của một cái tôi tràn đầy khát vọng tự do: tôi xây mái linh hồn/ cho thân thế tôi trú ngụ. Những thi ảnh thoát thai từ cơn mộng mị được hôn phối một cách tự động, hoàn toàn không có bất kì một sự kết dính nào, nhưng vẫn cuốn hút, tự nhiên, tạo hiệu ứng va đập chói lòa. Khó có thể chia tách đường biên hư – thực, vô thức – hữu thức, tất cả cùng tồn tại trong thế giới mộng du của người đãng trí, trong thời gian và không gian của linh hồn. Con người nói riêng, sự vật hiện tượng nói chung như khoác chiếc áo của huyền thoại. Theo Robert Bréchon, có ba cấp độ để xây dựng những thi ảnh khác lạ, gây sự bất ngờ. Ngụ ngôn của người đãng trí đa phần vận dụng cấp độ 1 (kiểu so sánh A như B) và cấp độ 2 (A và B đặt cạnh nhau, A là B). Trong sự tự do tuyệt đối, nhiều hình ảnh thơ hoàn toàn thiếu vắng tính chất logic, tạo sinh một thế giới khác thường (sau tàng cây khổ hạnh người say rượu lõa thể như một chiếc lá sen, mùa thu sương mù như dĩ vãng, tôi như tiếng khóc mù mọc đôi cánh, tuổi thơ tôi/ chỉ là những đốt xương trắng, quê hương giờ này đã vùi thân/ trong chiếc nôi vú già của ánh trăng,…). Chính những thi ảnh được tạo sinh bằng kĩ thuật cắt gián, phân mảnh, lắp ghép đã dội vào không gian, khoác vào không gian một hình hài mới, vừa gần gũi vừa xa lạ: dòng sông đen bắc cầu qua núi, khúc ai từ mọc trên cánh đồng quê, trăng non rung trên tấm hình hài rã mục, đêm rụng đầy những hạt nước mắt ngọc trai, nhạc giáo đường trôi trên thi thể của hoàng hôn/ của hư vô của niềm tuyệt vọng cháy sáng/ nhạc hoang đường trôi vào miền vô thức/ giữa không gian u tịch với từng bước linh hồn/ đàn chim lưu đày mang cánh hoa lys bay lên/ trên bầu trời sợi tóc mun đã bay đi làm gió,…  Không gian ngập tràn những thi ảnh của tiềm thức, vô thức: khúc hát ngu ngơ của bông lau/ tháng giêng giã từ thuốc đắng đi tìm cỏ may/ tôi không thấy nàng mặc áo chim/ chỉ có người hư vô và mặt trời/ tôi đếm dấu chân nai trên bản chúc thư tình yêu/ có những con đường mang tên em chưa ra đời/ những con đường mọc đầy cây ma túy. Không chỉ mang đến lãnh địa lạ của không gian, Ngụ ngôn của người đãng trí còn mang đến dấu ấn lạ của thời gian. Thời gian được khám phá bằng một cảm quan mới, được tổ chức trên đường ray của chiêm bao, mộng mị: cây long não đã bao lần/ đi qua các mùa bi quan của thời tiết, thời gian ngủ trong vùng cô liêu khi cơn say ngã xuống, thời gian đóng băng trong tĩnh mịch,… Ở Ngụ ngôn của người đãng trí, nếu không gian được nới rộng thì thời gian lại bị ngưng đọng. Trong khoảnh khắc ngưng lại của thời gian, người đọc như được dạo chơi, được nhẩn nha giữa một không gian kì bí, một thực tại cao hơn thực tại: tôi đem thời gian đổi lấy chiêm bao/ hằng đêm thắp nến đi vào giấc ngủ/ trang sách mở trên gối/ tôi thấy những cánh đồng bình thản vô cùng/ những chiếc chân mọc dài của thảo nguyên/ những vầng trán ưu tư của cha mẹ, người yêu và bè bạn/ những cửa sổ của bầy cừu/ trên dòng suối có tiếng đàn lục huyền.

Sau tết Mậu Thân 1968, thành phố Huế gánh trên vai những ngột ngạt, nặng nề, mà sau này, trở thành một vết thương khó liền da trong lòng người dân cố đô. Trong hoàn cảnh ấy, phải chăng, để có thể chống lại sự kiểm duyệt của chính quyền Sài Gòn, Ngô Kha đã chọn cách thế tuyên ngôn của người đãng trí, lái tác phẩm mình theo khuynh hướng siêu thực? Giã từ Hoa cô độc với những bịn rịn trần thế, Ngô Kha bước vào thế giới của vô thức, của lối viết “vụt hiện”, “tự động”. Đằng sau những câu chuyện, lời thơ huyền hoặc, người đọc vẫn thấy được sợi chỉ tình thao thiết đỏ xuyên suốt của một thi sĩ vốn mang trong người muôn quả tim. Ngôn từ người đãng trí ở ngoài vùng phán xét/ không còn ai hiểu được/ ngôn ngữ của người yếm thế/ những tiếng nói mọc đầy gai/ những âm thanh của bão tố. Tiếng nói đó, do vậy, chính là tiếng nói phản chiến:

ôi quê hương chúng mình

cho tôi thương vô cùng

nên hằng đêm thèm tự sát

ôi đất mẹ điêu linh

những con sông chảy qua

cánh đồng mang thây người

chôn vùi vô vọng

ôi dòng máu lênh đênh

hai mươi bốn giờ đi qua những

tử thi còn mở mắt

có những người lính âm thầm đưa

chân dung mình đến huyệt

Sống trong thế giới của mộng mị, nhân vật tôi trong Ngụ ngôn của người đãng trí dẫu mang trái tim người say rượu, uống ánh mặt trời và dòng phù sinh vô tận vẫn không che giấu được tột cùng cô đơn: tôi là thuyền độc mộc, ta chỉ là loài phù phiếm, lòng ta như chiếc đình hoang, tôi vẫn là người chỉ còn một giác quan đơn độc, chỉ có mình tôi với rong rêu ưu phiền,… Tâm trạng cô đơn còn được cực tả bởi những cụm từ mang sắc thái trầm buồn: phiền não, chết, từ giã, tuyệt mệnh, vĩnh biệt,… Ám ảnh cái chết dọc suốt tác phẩm như là dự cảm của thi sĩ về cái ngày mình bị nhà cầm quyền Thừa Thiên bắt lần thứ ba và thủ tiêu một cách mờ ám: tôi sẽ chết như mùa đông trút lá cây hờn tủi/ con ngựa ô già ngã gục/ trên chiếc thảm nhung của loài ốc sên/ ta cầm trái tim em lay gọi/ chỉ có máu đen chảy trên vùng cô độc. Ngô Kha là một trong số những trí thức trẻ quyết liệt kêu gọi sự tham gia của quần chúng, hòa vào phong trào của quần chúng đứng lên chống lại chính quyền Sài Gòn. Do đó, việc nhà thơ mượn cái chết, mượn sự tồn tại của linh hồn cũng chỉ để chất vấn về những điều không thể trực ngôn. Tuy mang âm hưởng của nỗi buồn, chết chóc, song trường ca của Ngô Kha vẫn vương vấn với đời, với những ai có lương tâm bằng thứ ngôn từ ma mị, bằng một tâm hồn khôn nguôi khát vọng tự do, dân chủ, hòa bình:

tôi chỉ còn hồn tôi trong gió lốc

cuồng si

với vần thơ hoang đường

cưu mang nhục thể

như khúc hát độc huyền của

kẻ câm

xin đừng trách tôi là người

phù thủy

ngôn ngữ đã phí phạm thần kinh

tôi như một lũ con hoang

Ngụ ngôn của người đãng trí đậm dấu ấn của trường phái siêu thực. Thế giới “siêu hiện thực” trong trường ca là thế giới của sự kì bí, ảo diệu. Thi ảnh nào cũng mờ nhòe, phi logic, nhưng vẫn đủ để người đọc nhận ra tiếng nói của một kẻ vong thân/ khát tình thương chắng thiết phân trần, tiếng nói của một trí thức yêu nước nhìn thấu từng vết thương mưng mủ trong mạch máu quê hương. Trường ca của Ngô Kha, do vậy, là tiếng nói của người đãng trí             

H.T.A

——-

(*) Trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí được Ngô Kha viết năm 1968, in xong năm 1969, toàn bộ trích dẫn trong bài viết này được lấy ở cuốn Ngô Kha – ngụ ngôn của một thế hệ, Nxb Thuận Hóa, 2005.

Cùng Danh Mục:

Nội Dung Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>