Thủ pháp nói quá trong chuyện Bác Ba Phi

Huỳnh Công Tín

(khoa trương) là một thủ pháp nghệ thuật thường được dùng trong các sáng tác nghệ thuật dân gian, như trong truyện kể, ca dao, hò, vè… không phải là không nói có, có nói không, mà là cường điệu, nâng quy mô những hiện tượng được miêu tả so với cách biểu hiện bình thường. Mục đích của nhằm làm sáng tỏ, nhấn mạnh vào bản chất sự vật, sự việc, hiện tượng, để đạt được dụng ý nào đó. Trong chuyện , thủ pháp này được khai thác triệt để với tần số cao trong suốt chuỗi chuyện và trong từng câu chuyện. (Sáng tác của được nhà văn Anh Động ghi lại gồm 4 phần, mỗi phần lại chứa đựng nhiều câu chuyện nhỏ. Có tất cả 38 chuyện với 4 chủ đề : 1. Mùa khô; 2. Mùa ruộng; 3. Đi săn; 4. Chiến tranh.). (1)

Thủ pháp nghệ thuật nói quá, được Bác Ba Phi dùng trong toàn bộ chuyện. Trong 38 chuyện, có nhiều chuyện ông dùng thủ pháp nghệ thuật này để đặt tên, như: Chuẩn bị một chuyến phi hành vũ trụ, Gác mật ong bằng những cây kèo da, Túp chòi quay, Ươm giống mận hồng đào vào thịt nai. Có bầy nai không bao giờ kêu. Kho lương thực của chim kéc và chiếc tàu bằng xương, Phải gọi là con rắn nai mới đúng, Bỗng dưng cây rừng chạy thụt lùi về phía sau, Đoàn máy bay liên hợp của Bác Ba Phi đáp xuống sân nhà, Chém trực thăng, Xe tăng làm xiếc, Những con dơi lửa ra quân…”. (2)   

chien tau khong dong co Thủ pháp nói quá trong chuyện Bác Ba Phi

Trong từng chuyện, thủ pháp nghệ thuật được dùng đôi, ba lần trở lên. Có những chuyện thủ pháp nghệ thuật được khai thác liên tục như: “Chuẩn bị một chuyến phi hành vũ trụ, Gác mật ong bằng những cây kèo da, Tôn Tẫn và Tôn Yên đời nay, Ở xứ cá mà phải ăn tôm, Túp chòi quay, Chưa vào rừng mà con chó Đuổi đã lâm trận, Con Đuổi được sinh ra lần thứ hai, Chém trực thăng, Nguyên tắc đòn bẩy, Đi quanh về tắt…”. (3)

Cách nói quá trong chuyện thường được xây dựng theo hai hướng:

Hướng phóng to sự vật, sự việc:

            Trong “Chiếc tàu không có động cơ”, ông miêu tả hoạt động đạp nước của rùa khác nào động cơ những máy nổ: “Cứ một chân vịn vào be ghe, ba chân đạp nước làm cho chiếc ghe của hai ông cháu bác Ba Phi lướt tới ào ào.”. (4)

            Trong “Thân cây chết đứng giữa rừng”, ông miêu tả con rắn: “Thật là một thân cây khô chết đứng giữa rừng, cao đến nhìn lên trật ót cũng chưa thấy ngọn.”. Hoặc: “Cây chết lâu ngày, thân cây đóng rong trơn nhớt khó trèo làm sao. Cây không hề có một nhánh, thân lớn bằng cái khạp da bò.”. (5)

            Trong “Tôn Tẫn và Tôn Yên đời nay”, con trâu Pháo tuy chết nhưng vẫn bay được, vì trong bụng chiếc “máy bay trâu” có hàng đàn quạ: “hàng đàn quạ trong bụng trâu tuôn ra ào ào.”. (6)

Có khi tác giả dùng so sánh phóng đại:

            Trong “Ở xứ cá mà phải ăn tôm”, ông so sánh việc hai ông cháu kéo con cá lóc lên bờ, bằng liên tưởng quá thú vị: “Hai ông cháu kéo con cá lóc tựa mấy anh bộ đội kéo pháo lên chiến trường Điện Biên Phủ.”. (7)

            Trong “Kho lương thực của chim kéc và chiếc tàu bằng xương”, ông nói về con “càn đước” lớn đến độ, mà theo ông cái mu nó “lớn không thua chiếc phum của đám quận Nhung”. (8) Một so sánh táo bạo!

            Trong chuyện “Con Đuổi được sinh ra lần thứ hai”, ông miêu tả một con rắn hổ mây lớn “tựa một chiếc ghe ngo của người Khơ-me bơi đua trong mùa đưa nước.”, quả không còn so sánh nào hơn. (9)

            Trong “Đoàn máy bay liên hợp của Ba Phi đáp xuống sân nhà”, ông nói về “hai xâu chim tung cánh cất cao lên, mang hai ông cháu bác Ba Phi theo lên bầu trời” mà liên tưởng nhẹ nhàng “tựa cánh diều giấy”; lại còn bảo thằng Đậu, cháu ông, cố gắng “lái cho bầy chim bay về xóm nhà”. Còn liên tưởng nào có tính phóng đại bằng. (10)

Việc sử dụng thủ pháp nghệ thuật, xét từ bình diện nội dung đã nêu bật được các mục đích sau:           

Phản ánh sự phong phú, giàu có của vùng đất phương Nam. Tất cả sản vật ở vùng đất ông sống, từ vật nuôi trong nhà cho đến vật hoang ngoài trời đất, bao giờ cũng to lớn, quá cỡ, nặng quá mức và nhiều vô kể. Điều này phản ánh được sự phong phú một vùng đất nhiều người đã từng biết đến: “Hai ông cháu bác Ba ngồi trên ghe nhìn chuột và chồn lội đầy nghẹt một khúc sông mà vỗ tay cười ngất.”; chiếc ghe tam bản của hai ông cháu có “sức chở hàng chục tấn”. Ấy vậy mà “rùa đã xuống đầy ghe và những con rùa tới sau phải nhảy bừa xuống sông, kết bè với đám rùa đeo theo hai bên be ghe nãy giờ” tạo thành một động cơ đẩy chiếc ghe “lướt tới ào ào mà không nghe một tiếng vang (11); ếch “lớn ngoại cỡ”, có thể “nhai rùa nghe dòn tan, tựa người ta nhai cà pháo muối chua…(12); ong mật nhiều vô kể đến độ “dưới dạ cái chân tréo ngoảy của hai ông cháu đều có hai tổ ong mật đến ốp kèo đóng tòn ten” và khi bác Ba “cạo lấy ổ ong ở chân mình, có đến hai lít mật(13); cá lóc to đến độ “hai ông cháu bác Ba Phi hè hụi kéo mãi mà lôi không nổi con cá lóc lên bờ”; cá trê cũng to và nhiều không kém: “Chúng vừa rỉa thịt nai vừa đẩy tới, đẩy tới…” khiến bác Ba khi “lôi chiếc đầu và chùm ruột con nai lên, kéo lên theo hàng chục ký cá trê, con nào con nấy ú nu, vàng nghệ”… (14)

Khai thác cái trái tự nhiên để gây cười. Nói quá bao giờ cũng được dùng làm phương tiện đạt mục đích gây cười: “Bác Ba Phi lao tới nắm đuôi rồng. Rồng vung mình, đập đuôi quăng bác bê qua, bê lại.”, hay khi “bác vừa dở đuôi con trâu lên, bỗng có một con quạ từ trong lỗ đít trâu bay vọt ra.”. Khi đi cày bác quất vào mông trâu, trâu kêu “éc , éc”; lúc đó Bác mới “sững sờ và bật ngửa ra”, thì ra “heo nhà bác nuôi to con quá cũng có thể lầm lẫn với trâu”. Nói về độ dẻo của nếp, ông kể: “Hai Móm vụt bật cười. Chiếc bánh ít trong miệng bác bay vèo ra mang theo hai hàm răng giả trúng đánh bốp vào chiếc tủ thờ kê giữa nhà. (15). Hay “bốn con chó con vừa mới được đẻ ra, thấy mẹ lâm nạn, chúng sôi sục căm thù liền chia nhau mỗi con một phía đổ xô vào vây chặt con heo.” (16). Khi con Đuổi bị bể đầu thì Bác “chặt một đoạn dây mây rịt cái đầu con Đuổi lại” và “cái đầu con Đuổi tuy được rít lại nhưng cũng còn kẻ hở. Lúc nhào vô cắn heo, tiếng sủa của nó cứ sì hơi ra theo lằn nứt nghe cành cạch.”. (17)

 65948e956e29ce7e zpsd745c9fd Thủ pháp nói quá trong chuyện Bác Ba Phi

(Phần mộ Bác Ba Phi. Nguồn: www.nhomai.vn)

Phản ánh sự hiểu biết phong phú về đời sống của ông. Trong cách nói quá ông xây dựng, người nghe vẫn phải thầm thán phục sự hiểu biết phong phú của ông về một vùng đất ông đã sống. Sự hiểu biết này tạo cho ông một bản lĩnh sống và chỉ có thể vậy ông mới chiến thắng được các thế lực tự nhiên, cũng như những thế lực áp bức xã hội. Khi bác uốn câu và cột dây để bắt con ếch ngoại cỡ: “Bác uốn que sắt thành một lưỡi câu thật bén. Bác dùng sáu sợi dây chì gộp lại nhưng không se săn, tóm vào lưỡi làm nhợ câu.” (18). Tuy nói quá, nhưng rõ ràng là kinh nghiệm của người từng đi câu. Lối so sánh có quá khi ông nói về các loài chim, nhưng nói lên được sự hiểu biết tường tận của ông về chúng: “Những con chim dòng dọc mình rằn xám, đầu đội mũ vàng óng, giống mấy thằng cha cò hiến binh ngụy ở chợ Cà Mau; những con chim áo dà đội mũ đen, mặc áo nâu trông hiền lành tựa các vị ni cô; những con chim manh manh trổ lông mã đỏ ối như đóa hoa vông có điểm nhiều hột gạo…”. (19)

Phản ánh sự lạc quan, yêu đời, sự mưu trí, gan dạ. Đọc chuyện Ba Phi, người ta hình dung ông là “một con người tính tình chất phác, phúc hậu và vui nhộn”. (nhận xét của Anh Động). Quả đúng vậy. Nếu không, làm sao ông có thể có một lối tư duy “bình dân” lại hóm hỉnh như thế? Việc hai ông cháu chống chọi với con nước khi tàu chìm cũng đủ nói lên sự bình tĩnh, gan dạ và lạc quan của ông: “Thế là ông ôm khúc lái, cháu ôm khúc mũi của chiếc thuyền bí đao, một chân đạp nước thay cho chèo, một chân cặp lái thẳng tiến. Mặt biển sóng gợn lăn tăn, gió thổi rào rào, hai người cứ trôi bập bềnh. Để chống cơn buồn ngủ, bác ba ngáp dài một cái rồi cất tiếng ca một bài vọng cổ thật du dương.” (20) Việc ông cháu Ba Phi đón lấy đầu đạn 155 li cũng nói lên được sự xem thường hiểm nguy của hai ông cháu, trong quá trình đấu tranh với giặc để tồn tại: “Ông nội chồm tới vặn ngòi nổ của trái đạn ra, kẻo khi rớt xuống, đạn nổ, ông cháu mình bị nó tả tơi hết.” (21) Hoặc việc ông ôm cái đuôi máy bay…, phải chăng ông muốn thể hiện sự gan dạ của mình và những người nông dân quê ông: “Trong lúc bác Ba vừa lồm cồm ngồi dậy chưa kịp lượm cái phản, bác vội chụp đại lấy đuôi chiếc máy bay.”…

Thể hiện trí tưởng tượng phong phú. Phải có một trí tưởng tượng phong phú, bác Ba Phi mới có được cách nói quá mà người nghe có thể chấp nhận được. Hình ảnh chiếc ghe có những cây cột buồm kì lạ được lí giải: “Một con trăn gió đã nuốt một lượt bốn con nai vào bụng, gạc nai đâm thủng lưng trăn xuyên ra ngoài lởm chởm. Nghe có tiếng động con trăn từ từ bò đi, trông nó như một chiếc ghe có những cột buồm kì lạ.(22) Hai xâu chim mắc bẫy được ông nhìn như một đoàn máy bay liên hợp đưa ông cháu đi du lịch, quả là sự tưởng tượng khá đặc biệt. Trong nói quá, bao giờ ông cũng chú ý lí giải cuộc sống bằng sự tưởng tượng phong phú của mình.

Nói quá tuy không phải là biện pháp nghệ thuật duy nhất trong chuyện Ba Phi, nhưng rõ ràng biện pháp này được ông khai thác triệt để nhất. Nhờ đó, chuyện ông có được hình thức nghệ thuật riêng, khó lẫn với sáng tác dân gian khác. Tất nhiên, chuyện của ông gây cười, giải khuây, xua tan được những buồn chán thường nhật của những người dân chân lấm tay bùn ở vùng “sông nước U Minh”, còn phải nói nhờ chất giọng hài hước bẩm sinh của ông trong lúc kể chuyện mà nhiều người có dịp nghe đều có chung nhận định như vậy. (23) (Có nhiều người đọc chuyện Ba Phi, hay nghe một người khác kể lại cảm thấy không cười được. Vì thiếu phần chất giọng, yếu tố không kém phần quan trọng, làm nên chuyện cười Ba Phi). Qua chuyện của ông, người đọc, người nghe nhận diện một Ba Phi, tiêu biểu cho hình tượng người nông dân Nam Bộ. Đó là sự hào hiệp, cởi mở, phóng khoáng, lạc quan… Chuyện của ông mạng đậm phong cách nói năng và ngôn từ của cư dân Nam Bộ.

Chú thích:
1. Anh Động, Chuyện cười bác Ba Phi, Văn nghệ Châu Đốc, 1994.
2. Sđd, tập 1, tập 2.
3. Sđd, tập 1, tập 2.
4. Sđd, tập 1, tập 2.
5. Sđd, tập 1, tr. 56-57.
6. Sđd, tập 1, tr. 69.
7. Sđd, tập 1, tr. 76.
8. Sđd, tập 1, tr. 172.
9. Sđd, tập 2, tr. 19.
10. Sđd, tập 2, tr. 94.
11. Sđd, tập 1, tr. 9-20
12. Sđd, tập 1, tr. 26
13. Sđd, tập 1, tr. 48-49
14. Sđd, tập 2, tr. 41.
15. Sđd, tập 2, tr. 15
16. Sđd, tập 2, tr. 56
17. Sđd, tập 2, tr. 57.
18. Sđd, tập 1, tr. 27
19. Sđd, tập 1, tr. 84.
20. Sđd, tập 2, tr. 117.
21. Sđd, tập 2, tr. 112.
22. Sđd, tập 2, tr. 46.
23. Huỳnh Công Tín, Cảm nhận bản sắc Nam Bộ. Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2006, tr. 351.

Nguồn: Đặc trưng văn hóa Nam Bộ qua phương ngữ, NXB. CTQG-ST, HN, 2013

Cùng Danh Mục:

Nội Dung Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>