Tác phẩm truyện ngắn: “Chuyện tình trong chiến tranh” – nhà văn Phạm Long

Ra khỏi doanh trại, Nguyễn gặp may, chiếc xe tải anh vẫy dừng lại ngay. Người lái xe thò đầu ra: Xe em chỉ về đến Việt Trì… Nguyễn nghĩ thầm: Đi được đoạn nào hay đoạn ấy, rồi anh cởi ba lô, định trèo lên thùng xe, thấy vậy người lái xe vội nói: xe em chuyên chở lợn, thùng xe bẩn lắm, anh lên ca bin mà ngồi, trên ấy mới chỉ có một người.

Cô gái ngồi trên ca bin, trùm khăn thổ cẩm kín đầu kín mặt, lặng lẽ ngồi dịch vào trong, nhường nửa ghế ngoài cho Nguyễn. Xe từ từ lăn bánh. Anh lái xe vừa ngước nhìn Nguyễn vừa nói: Em đoán anh ở K2, được nghỉ đột xuất về xuôi ăn Tết. Sao anh biết? Người lái xe nhoẻn miệng đáp: Em là người nhà của K2 đấy, tháng nào em chẳng chở lợn vào K2, cái ông trung đoàn trưởng của các anh nói tiếng nặng như chì.

– Thủ trưởng Phùng.

– Đúng rồi!

Một lúc sau anh lại bảo: Em quên chưa giới thiệu với anh, người ngồi cạnh anh là cô giáo Hương, dạy học ở nơi đội xe em sơ tán, nhưng em cũng chỉ mới quen cô ấy, từ lúc cô ấy xin đi nhờ xe. Nguyễn quay sang chào cô gái, cô gái gật đầu đáp lại.

Anh lái xe nhổm người, để nhìn cho rõ cái ổ gà nông sâu trước mặt rồi bảo: Cái ông Phùng thủ trưởng của các anh trông xù xì thế mà trái tim xanh rờn, một lần ông bảo với em: Trước đây tớ cũng lái xe, khi ấy tớ mới hai mươi mốt tuổi, cả chiến dịch Điện Biên gọi và phong tặng tớ là tay lái lụa rừng xanh, các cậu ngày nay đã thấm gì. Thấy anh lái xe cởi mở, vui tính, ham chuyện, Nguyễn cũng muốn buôn chuyện với anh ta, và cũng để co lại cái buổi chiều ba mươi Tết đang lất phất mưa bay này. Thủ trưởng Phùng của chúng tôi thì nhiều chuyện lắm. Đơn vị tôi tập nặng như vận động viên thể dục, mỗi người đeo hai mươi viên gạch trên lưng, vị chi là bốn mươi cân, sáu quả lựu đạn chày ở thắt lưng, trên tay một khẩu AK, lăn người qua một bãi cỏ, sau đó bò qua ba hàng rào dây thép gai, rồi lại chạy hai trăm mét, và vượt lên mười bảy nấc thang tre, rồi lại nhảy từ ngọn thang tre xuống một con hào, nghĩa là hai tai như hai bễ lò rèn, ruột gan trộn lẫn với nhau, thế mà khi thu quân để trở về doanh trại, ông Phùng còn bắt chúng tôi vừa đi vừa hát: Vì nhân dân quên mình. Lần ấy anh em mệt quá, người hát người không, trong đó có tôi, gọi tôi lên: Tại sao đồng chí không hát. Tôi nhanh trí trả lời: Báo cáo thủ trưởng: Em không thuộc bài hát đó, ông Phùng bảo: Tôi không tin, có một người lính lại không thuộc bài hát Vì nhân dân quên mình, đồng chí nói thật đi, chúng ta là những người lính, không bao giờ biết nói dối. Quả đúng như thế, tôi là người chưa bao giờ biết nói dối nên nhận lỗi ngay, thủ trưởng Phùng vừa cười vừa bảo: Các đồng chí không hát thì ta chạy vậy, ta chạy từ đây về sân trung đoàn bộ, đồng chí nào mệt quá, không chạy được tôi cho nợ, ngày mai chạy bù ba vòng sân doanh trại.

Cả đơn vị há hốc mồm, anh nọ nhìn anh kia, anh hát lườm anh không hát, ông Phùng dõng dạc hô: Toàn đơn vị nghiêm, buông quai “mủ”, mũ ông phát âm thành mủ, bọn tôi chưa kịp ré lên cười, ông đã hô tiếp: toàn đơn vị chạy, một hai ba, và chính ông là người lao lên chạy đầu tiên. Và từ đó chúng tôi gọi ông là “ông buông quai mủ”.

– Sướng thật! Anh lái xe vỗ đùi.

– Anh bảo gì cơ, Nguyễn ngạc nhiên hỏi:

– Là em bảo, chuyện anh kể, nghe sướng thật.

Cô gái ngồi cạnh Nguyễn che miệng cười, khẽ liếc nhìn Nguyễn, anh lái xe bỗng hỏi: Tại sao đến hôm nay anh mới được về nhà ăn Tết, cô giáo thì em hỏi rồi. Nguyễn nhìn con đường đất đỏ, lầy lội và hằn sâu những vết xích xe tăng, những ổ gà lồi lõm. Anh kể: Đơn vị đang làm vệ sinh, chuẩn bị đón năm mới, thủ trưởng Phùng tập hợp bảo: Trên cho đơn vị ta được một phần ba quân số về nhà ăn Tết, để công bằng, ban chỉ huy quyết định gắp thăm, chúng tôi làm đủ ba trăm ba mươi chín lá phiếu đánh số từ một đến ba trăm ba mươi chín, đồng chí nào gắp được lá phiếu từ số một đến số một trăm mười ba là được về, các đồng chí có tán thành cách làm ấy không, mọi người nhất loạt đồng ý. Tôi gắp phải lá phiếu số một trăm mười bốn, tôi ngồi phịch xuống đất, bụng trách dạ, sao cái số mình đen đủi thế, thà gắp được lá phiếu đánh số cuối cùng còn an ủi hơn. Thủ trưởng Phùng đứng ngay bên cạnh bảo: Cậu chưa đen bằng tớ, tớ gắp phải lá phiếu số ba trăm ba mươi chín thì sao.

Tôi biết thủ trưởng Phùng nói thế là để an ủi tôi, bởi vì ông và cả ban chỉ huy, không một ai gắp phiếu. Thế mà trưa nay tôi đang ngủ, tự nhiên bị dựng dậy, thủ trưởng Phùng hỏi: Có phải cậu gắp được lá phiếu số một trăm mười bốn, tôi đáp ngay: Dạ đúng ạ, em vẫn còn giữ để làm kỷ niệm. Có một cậu được phiếu nhưng xin nhường lại, vợ cậu ta ở nhà bỏ đi theo trai, cậu ta bảo, về chỉ thêm buồn. Ban chỉ huy đơn vị cho cậu được thay thế, hãy nhanh lên, và vắt chân lên cổ mà chạy, may ra còn kịp đón giao thừa. Tôi mừng quá cóng hết cả chân tay, thủ trưởng Phùng thì cười lệch cả miệng.

Anh lái xe hồn nhiên bảo: Thế là vì có một người con gái theo trai mà anh được về sum họp với gia đình. Mưa vẫn đập rào rào vào đầu xe, cái gạt nước, như hai cánh tay cứ hất đi hất lại đều đều. Đến Việt Trì thì trời tối như mực, cách đây chưa lâu, Mỹ ném bom đánh sập cầu và nhà máy điện, mùi bom đạn còn thoang thoảng trong gió. Anh lái xe chép miệng: Tiếc thật. Nguyễn hỏi: Anh tiếc gì cơ, người lái xe đáp: Là em tiếc không còn được chuyện trò với anh nữa, em dặn anh và cô giáo thế này: Sang sông nhớ đứng ngay đầu bến đón xe, nếu thấy xe biển số HK-37 thì ôi thôi, khỏi phải tóc rối tơ vương, cứ là xanh rờn như đồng lúa quê ta, anh chặn nó lại và bảo: Tao là anh thằng Nam Láu đây, cho tao đi nhờ về Hà Nội, em tin không một thằng nào dám từ chối. Nói đến tên em là chúng nó đều phải ngả mũ kính chào, tất cả chúng nó đều là đàn em của em, em nói dối anh, em mù mắt. Nam Láu là biệt danh của em, HK-37 là kí hiệu của đoàn xe em.

Cô giáo và Nguyễn vừa cười vừa tròn mắt nhìn anh lái xe. Bây giờ Nguyễn mới để ý tới khuôn mặt còn búng ra sữa của anh ta, thế mà đã oai thế, tất tần tật đều là đàn em, ghê gớm thật, Nguyễn không giấu được nụ cười. Ba người chia tay nhau, Nam Láu lên xe nhưng rồi lại thấy anh nhảy xuống, anh chạy đến chỗ hai người và bảo: Nếu anh và cô giáo không bắt được xe, em dặn thế này, hai người đi ngược lên phía ngã ba sông, cách bến phà một cây số, hỏi thăm lò giết mổ Yên Lâm, ở đó cứ ba giờ sáng, có một cái xe chở lòng trâu, bò đem về nuôi thú ở vườn bách thú Hà Nội, đánh nhau dữ dội thế này mà vẫn cứ phải nuôi hổ, nuôi báo để cho các cháu vui chơi, thằng lái xe ấy là đàn em của em, anh cũng bảo nó, tao là anh thằng Nam Láu HK-37 đây, thế nào nó cũng đưa anh và cô giáo về tới Hà Nội. Thôi em đi đây, nhớ kỹ lời em dặn.

Nguyễn nhìn theo Nam Láu, anh có cảm giác như vừa phải chia tay với một người thân thương. Cô giáo và Nguyễn rảo bước xuống phà, sang đến bờ bên kia, nhớ lời Nam Láu dặn hai người chọn một chỗ đứng đợi xe ở dưới phà lên. Trời vẫn mưa và gió thổi bay cả vạt áo mưa của Nguyễn. Nguyễn vẫy mấy xe liền, nhưng không xe nào dừng lại, nhớ lời thủ trưởng Phùng dặn, phải để cho cánh lái xe thấy mình là bộ đội, lòng của họ mới động, mới rung, Nguyễn lật cái mũ che mưa, để lộ ngôi sao vàng năm cánh trên mũ “cối”, và chẳng biết có phải vì thế hay không, một chiếc xe tải mui bạt từ từ dừng lại. Nguyễn liếc nhìn biển số, anh reo lên ở trong lòng, HK-37 đây rồi, và Nguyễn nói với người lái xe: Tôi là anh của Nam Láu đây, cậu ấy dặn tôi…

Nguyễn nói chưa dứt câu, người lái xe đã cắt ngang: Thật không, anh là anh của thằng Nam Láu à, sao nó bảo anh nó đang ở chiến trường.

– Tôi vừa ra để báo cáo tổng kết.

– Thảo nào trông anh và Nam Láu giống nhau như hai giọt nước.

Nguyễn cười, người lái xe vén tấm bạt ở hậu xe và bảo: Anh và chị tranh thủ lên xe đi, chúng ta sẽ về Hà Nội trước lúc giao thừa, nhưng anh và chị chịu khó ngồi ở thùng xe, trên ca-bin đã có người, thằng Nam Láu mà biết em để anh và chị ngồi thùng xe, thế nào nó cũng càu nhàu, anh và chị đừng nói gì với nó, trước khi về buồng lái, anh lái xe còn bảo: Anh là anh của thằng Nam Láu, nó là đàn em của em, thế thì chúng ta là một khúc ruột rồi.

Nguyễn và cô giáo lên xe, Nguyễn sực nhớ trong ba lô có cái đèn pin của thủ trưởng Phùng cho mượn, anh lấy ra bật đèn lên và để nó chiếu sáng vào một góc. Hai người vừa ngồi xuống thì xe chạy. Nguyễn thấy trong lòng rất vui, thế là yên tâm rồi, nhất định đêm nay mình  sẽ có mặt ở Hà Nội, nhất định đêm nay mình sẽ lại được gặp mẹ. Anh muốn hỏi cô gái xem cô về đâu, làm sao cô phải đi chuyến xe năm cùng tháng tận này, nhưng lại thấy ngài ngại sợ cô gái cho mình là người tò mò, với lại biết hay không biết những chuyện ấy để làm gì. Thực ra từ lúc gặp nhau ở trên xe hai người đã nói với nhau một câu nào đâu, cô gái thì kín như bưng, Nguyễn thì rụt rè ý tứ.

Tiếng vải bạt ở nóc thùng xe rung lên bần bật, Nguyễn thấy đói, anh lấy hai cái bánh mì và một phong lương khô ra ăn, anh mời cô gái cùng ăn, nhưng cô từ chối. Tôi vẫn còn no anh cứ tự nhiên. Đây là khẩu phần ăn của người lính, chị nếm thử xem, chị đã ăn lương khô bảy trăm linh một bao giờ chưa. Chưa anh ạ. Vậy thì ăn thử đi. Lúc đầu cô gái còn rụt rè, nhai nhỏ nhẹ từng mẩu, sau cô bẻ cả nửa cái bánh đưa lên miệng. Hai người cứ lặng lẽ ăn, họ muốn nói chuyện với nhau, và đầy ắp những câu hỏi về nhau, nhưng người nọ cứ ngại người kia, họ ý tứ giữ một khoảng cách, và thế là vẫn chỉ có tiếng vải bạt ở nóc thùng xe rung lên bần bật.

Nhưng rồi không thể cứ im lặng được mãi, họ bắt đầu thấy sợ những khoảng trống và những khoảnh khắc câm. Cô gái bỗng kêu lên: Khát quá. Nguyễn đưa cái bi đông nước cho cô, cô gái ngửa cổ uống ừng ực, rớt cả nước xuống cằm, uống xong cô hỏi: Nước gì mà ngon ngọt thế anh. Nước suối nóng ở nơi tôi đóng quân, thủ trưởng Phùng của chúng tôi bảo: Hết , cứ múc nước này lên mà bán, nước mình cũng giàu to.

Càng về khuya tiếng vải bạt ở nóc thùng xe càng rung lên bần bật. Cô gái thấy Nguyễn cứ im lặng, cô hỏi: Anh buồn ngủ à? Không. Nếu anh buồn ngủ thì tựa vào thành xe mà ngủ không nằm được đâu, xe xóc lắm, nằm thì gẫy xương.

Nguyễn tựa người vào thành xe, tự nhiên anh nghĩ đến mẹ, đến thủ trưởng Phùng, đến Nam Láu mới quen, và tự nhiên anh nói với cô gái:

– Chị Hương này.

– Anh bảo gì cơ?

– Còn vài giờ đồng hồ nữa là sang năm mới, chị ước gì.

– Tại sao anh lại hỏi tôi câu ấy.

– Để xem tôi và chị có cùng một mơ ước không.

Cô gái hai tay vòng lấy gối, cô vừa cười vừa ngước nhìn Nguyễn:

– Anh hỏi tôi đột ngột quá, tôi phải suy nghĩ rồi mới có đáp án. Thế nếu là anh, thì anh trả lời thế nào?

– Tôi ước, hết chiến tranh tôi lại được gặp mẹ tôi, thủ trưởng Phùng, Nam Láu, và những người thân thương của tôi.

– Thế anh không ước gặp lại vợ hoặc người yêu của anh à. Cô gái hỏi.

– Tôi chưa có vợ và cũng chưa có người yêu.

Im lặng một lúc, cô gái tinh nghịch hỏi:

– Thế anh cũng không ước gặp lại tôi à?

Nguyễn hơi lúng túng vì câu hỏi quá bất ngờ, nhưng anh cũng trả lời ngay:

– Mơ ước ấy cao xa quá.

– Anh khiêm tốn, lẽ ra câu đó là của tôi mới phải.

Hai người như trút bỏ được tấm áo giáp, họ bắt đầu thấy tự nhiên và thoải mái trước mặt nhau. Bây giờ chẳng cần đắn đo. Chị về đâu? Tôi về Phú Xuyên. Chị vất vả quá, đêm ba mươi Tết mà vẫn còn lật đật ở ngoài đường. Thế là đến Hà Nội chúng ta chia tay nhau. Một lúc sau cô gái lên tiếng: Anh còn bố mẹ không? Bố tôi mất rồi, mẹ tôi năm nay đã gần sáu mươi. Anh kể chuyện về mẹ anh đi, anh kể chuyện có duyên lắm. Nguyễn như không để ý đến lời cô gái, anh thầm nghĩ, chuyện về mẹ thì kể cả đời không hết nhưng bây giờ biết kể chuyện gì để vừa lòng cô gái. Anh im lặng.

– Mẹ anh là người thế nào, sao anh cứ lặng thinh thế, giọng cô gái có phần tha thiết.

– Mẹ tôi là người thế này chị ạ, Nguyễn sôi nổi nói: Ngày tôi lên đường nhập ngũ, mẹ tiễn tôi đến tận sân ga, và mẹ tôi bảo: Đưa tay đây cho mẹ, tôi ngửa cả hai bàn tay ra trước mặt mẹ, mẹ lấy nước bọt của mẹ quệt vào lòng hai bàn tay tôi, tôi hỏi để làm gì hả mẹ, mẹ tôi bảo, để nỗi nhớ vơi đi.

– Ôi, cô gái reo lên, anh có một người mẹ tuyệt vời quá, chỉ thế thôi là tôi đã hình dung ra nét mặt, dáng người, và tấm lòng nhân hậu của mẹ anh rồi, anh hạnh phúc quá, chẳng bù cho tôi, tôi mồ côi mẹ từ tuổi lên ba.

Nguyễn muốn nói câu gì để an ủi cô gái, nhưng anh không tìm được lời, cô gái lại nói: Có phải từ hôm ấy lúc nào trong lòng bàn tay anh cũng ấm hơi mẹ, lúc nào cũng có nước bọt của mẹ ở lòng bàn tay anh, có phải thế không. Nước từ nóc xe bỗng bắn vào vai và cổ Nguyễn, cô gái bảo, anh ngồi né lại đây, và cái đèn của anh sắp hết pin rồi, anh tắt đi, để khi nào cần thì có cái mà dùng. Nguyễn tắt đèn. Thùng xe tối đen như mực. Tiếng xe rì rì như tiếng xay lúa ở những làng quê.

Nguyễn và cô gái chẳng còn nhìn thấy nhau, nhưng cả hai cùng cảm thấy họ vẫn nhìn thấy nhau rất rõ, và họ cứ đinh ninh rằng, họ đã gặp nhau ở đâu rồi, hình như ở đầu một ngọn sông, hay ở cuối một cơn mơ nào.

Bỗng cả cái xe nảy lên, Nguyễn và cô gái như bay khỏi sàn xe, hai người vội níu lấy nhau, ôm chầm lấy nhau. Cái xe đã vượt qua ổ gà được một lúc, nhưng không hiểu tại sao, hai người vẫn cứ ngồi ở tư thế ấy.

– Xin lỗi, xin lỗi, tại cái ổ gà, Nguyễn nói trên vai cô gái.

Cô gái im lặng, cô vẫn để vòng tay của anh bộ đội ôm lấy thân mình.

Rồi hai người đổ ập vào nhau. Tiếng xe vẫn  rì rì như tiếng xay lúa ở những làng quê. Đừng anh, chúng mình đừng đi xa quá. Cô gái vừa nói vừa đẩy Nguyễn ra. Cô ngồi bật dậy, cô buộc lại cẩn thận cái dải rút quần. Cô thắt đến năm bảy cái nút, cô tin rằng, không một ai kể cả cô, có muốn cởi cũng không cởi được.

53a56d3e33ddf Tác phẩm truyện ngắn: Chuyện tình trong chiến tranh   nhà văn Phạm Long

Chuyến xe ấy về đến Hà Nội đã mười giờ đêm ba mươi Tết. Bây giờ ai nhìn thấy họ cũng đều tưởng họ là một cặp vợ chồng mới cưới, họ quấn quít bên nhau, tay nắm tay nhau, đi như đang hối hả đến bến bờ hạnh phúc. Nguyễn bảo: Anh đưa em ra ga, xem có còn tàu chạy về Nam không. Hương níu tay nhìn Nguyễn, đôi mắt có ánh điện chiếu vào sáng lung linh.

– Không, về nhà anh đã, em muốn gặp mẹ. Giọng Hương dứt khoát.

Nguyễn mừng quá, anh dắt Hương đi thẳng ra hồ Hoàn Kiếm. Đêm ba mươi Tết, Hà Nội mưa bay, Hà Nội của những năm đầu chiến tranh chống Mỹ, xung quanh hồ người nối người đi đón giao thừa, đi đón ngày mai.

Nguyễn và Hương cứ thỉnh thoảng lại phải dời tay nhau, để tránh những cái hầm trú ẩn và nhường đường cho người khác, cái ba lô con cóc trên vai Nguyễn, cái túi xách thổ cẩm trên tay Hương, càng làm nhiều người chú ý. Càng làm nhiều người nghĩ rằng, anh bộ đội và cô gái nọ, vừa từ chiến trường ra, nhưng họ chú ý tới cô gái nhiều hơn là chú ý tới anh bộ đội, bởi cô gái nom ưa nhìn quá, cô gọn ghẽ rắn chắc, hai bím tóc của cô đen dài đến thắt lưng, cái áo len cổ lọ cô mặc không che hết được cái cổ trắng ngần, cái áo bông mầu cỏ úa, không phủ bằng được bộ ngực căng phồng của cô, còn khuôn mặt, ai nhìn vào cũng như bị hút, bởi đôi mắt như đang cười đang nói.

Đến Tháp Bút, Nguyễn bảo: Ta đi được nửa vòng hồ rồi, em có muốn đi tiếp nữa không. Hương buông tay, lấy khăn lau những giọt mưa lẫn những giọt mồ hôi trên mặt, cô bảo: Em rất muốn đi một vòng xung quanh hồ, bởi em đã bao giờ được ở Hà Nội đâu, nhưng sắp giao thừa rồi, để lần khác anh ạ. Thế thì ta sang đường, từ đây về nhà anh chỉ còn mất mười lăm phút nữa thôi. Hai người nắm chặt tay nhau rẽ khỏi dòng người đang cuồn cuộn đổ về hồ. Càng đi phố càng vắng, đến dưới một thân cây cổ thụ, Hương ngước nhìn lên tán cây hỏi.

– Đây có phải là hoa sữa không anh?

– Không phải em ạ, hoa này có người gọi là hoa mãn niên.

– Thơm quá anh ạ, Hương khẽ nói.

Bỗng Nguyễn ôm chầm lấy Hương, Hương không tài nào giẫy ra được, Nguyễn áp sát miệng mình vào miệng Hương, và Hương như không thở được, cô lấy hết sức vùng ra, suýt nữa thì Nguyễn ngã nhào xuống đất. Điên quá rồi, không sợ người ta nhìn thấy à. Mặc kệ, anh muốn xem Hương nào thơm hơn. Hai người lại nắm tay nhau.

Nhà của mẹ Nguyễn nằm trong một ngõ nghèo, cả ngõ không có một ngôi nhà nào xây bằng gạch. Nguyễn đứng trước một ngôi nhà lợp lá gồi, có mảnh sân đằng trước, có giàn hoa giấy phủ kín mặt sân. Trong nhà không có ánh đèn. Mẹ ơi. Không có tiếng đáp lại, Nguyễn gọi lần nữa, vẫn không có tiếng đáp lại, anh luồn tay vào trong cánh cổng bằng tre, thấy cổng khóa, anh bảo: Có lẽ mẹ về quê rồi. Cách đó một nhà có tiếng người vọng tới: Cậu Nguyễn à, bà về quê rồi, bà gửi chìa khóa bên tôi. Nguyễn cầm chìa khóa và bảo: Cháu được nghỉ đột xuất nên không kịp báo trước cho mẹ cháu, nhân tiện cháu hỏi bác, đêm nay còn tàu chạy về phía Nam không, bác làm ở ga chắc bác biết được giờ tàu, cô bạn cháu đây về Phú Xuyên ăn tết. Người hàng xóm nói: Tàu khách thì hết rồi nhưng tàu hàng thì có, một giờ đêm nay tôi đưa chị ra ga, và tôi gửi chị lên tàu, nhất định sáng mai, chị sẽ có mặt ở Phú Xuyên.

Hương cảm ơn, trong lòng mừng lắm.

Nguyễn mở khóa cổng, khóa cửa vào nhà, anh bật đèn và bảo với Hương: em cởi bớt áo ra, rồi xuống nhà rửa mặt và chân tay, anh dọn dẹp rồi xuống sau. Đèn bật sáng, Hương cảm nhận được ngay cái sạch sẽ gọn gàng ngăn nắp của ngôi nhà, cô cởi áo bông áo len, chỉ còn mặc chiếc áo dệt kim đông xuân cổ tròn cộc tay, trông Hương càng rắn chắc tươi trẻ, vải áo đông xuân  bó sát người, càng làm nổi lên những đường cong cơ thể của một người con gái. Nguyễn cũng chỉ còn mặc chiếc áo lót cổ vuông bộ đội, màu cỏ úa.

– Ôi em đau quá, bỗng dưng Hương vừa nói vừa nhăn mặt, hai tay ôm bụng, người cong xuống.

– Em đau bụng à, Nguyễn hốt hoảng hỏi.

– Không, cái dải rút quần làm em đau hết cả người.

– Sao lại là cái dải rút quần, Nguyễn ngạc nhiên hỏi.

– Tại anh đấy. Hương vừa nói vừa ngước nhìn Nguyễn, đôi mắt ánh lên vẻ tinh nghịch, pha chút giễu cợt.

Bây giờ thì Nguyễn hiểu rồi.

– Em thắt thế nào chặt quá, Hương nói tiếp: em cố giấu anh không cho anh biết cái nhức nhối của em, nhưng đến bây giờ thì em hết chịu nổi, mấy lần em cởi mà không cởi được, anh lấy dao hay kéo cắt đi cho em. Để anh cởi cho, nút nào anh chẳng cởi được.

Tuổi trẻ, đêm xuân, và những sợi mưa đông cuối mùa. Ngoài cửa sổ, pháo sáng chào năm mới bay vụt qua, đã sang năm mới, nhưng hai người vẫn cứ mê mệt nhau, tan chảy vào nhau, cho đến khi ông hàng xóm gọi, hai người vẫn chưa nói với nhau được những điều cần nói, để đến nỗi khi con tàu lăn bánh, Nguyễn hốt hoảng chạy theo gào lên: “Viết thư cho em, địa chỉ thế nào”, để đến nỗi, cô gái về đến vùng chiêm trũng mới sực nhớ, mình uống thuốc lú, bùa mê gì mà đến cái hòm thư của anh, đơn vị anh đóng quân ở đâu mình cũng không hỏi. Một tuần sau, khi cái Tết vẫn còn ẩn hiện ở đâu đó, Nguyễn cùng trung đoàn hành quân ra mặt trận.

*

Giữa rừng cao su Xuân Lộc, cửa ngõ của Sài Gòn, trong căn hầm chỉ huy chỉ còn lại một mình thiếu tướng Phùng. Không biết vì đâu và tại sao, mà trước một trận đánh lớn, ông lại trầm ngâm ngồi đọc lại nhật ký và lá thư của một người lính gửi cho ông, nhật kí và lá thư ấy, đơn vị tìm thấy trong ba lô của người lính đã hy sinh, và hầu như ông đã thuộc lòng. Nội dung bức thư nguyên văn thế này: “Kính gửi thủ trưởng Phùng! Chuyện giữa em và cô giáo Hương em đã kể trong nhật ký, nếu em hy sinh, em nhờ thủ trưởng làm cho em mấy việc: Một là, em khẳng định đã có vợ, người vợ duy nhất của em là cô giáo Hương. Hai là, nếu sau cái đêm giao thừa ba mươi Tết ấy, Hương có con thì những việc còn lại, em nhờ thủ trưởng. Cảm ơn. Trung đội phó B2 Lê Trọng Nguyễn.”

Thủ trưởng Phùng nhớ lại: Năm ấy ông nhận được điện của Bộ Tổng tham mưu yêu cầu ông thu xếp công việc ra Bắc để báo cáo về trận đánh giải phóng thị xã An Tuyên, ông điện ra xin được ở lại, và được báo cáo bằng văn bản. Ngay ngày hôm ấy, ông lại nhận được điện, yêu cầu ông phải ra ngay, để trực tiếp báo cáo bằng miệng và để Bộ Tổng tham mưu rút kinh nghiệm, có quyết sách về chiến dịch mới. Biết không thể từ chối được, với lại tự nhiên ông cũng muốn ra Bắc để làm những việc mà Nguyễn trăng trối lại. Từ ngày Nguyễn hy sinh, ông cứ như người mắc nợ, ông tâm niệm, nhất định ông sẽ thực hiện bằng được những lời dặn lại của Nguyễn.

Hôm ấy cơm chiều xong, ông rời nhà khách Bộ Tổng tham mưu, ông gọi xích lô chở thẳng ông đến nhà mẹ Nguyễn. Một phụ nữ trạc tuổi ông bảo: Sau khi nhận được tin con trai hy sinh, bà cho chúng tôi ở nhờ ngôi nhà này, bà về quê ở với vợ chồng người con gái và các cháu ngoại.

Sáng chủ nhật hôm sau, ông xin xe của nhà khách, đưa ông về quê Nguyễn.

Mẹ Nguyễn tiếp ông trên chiếc chõng tre kê ở đầu hè, mẹ rót bát nước vối mời, ông vào ngay: Con ở cùng đơn vị với em Nguyễn, con muốn hỏi mẹ, từ ngày Nguyễn hy sinh, có ai tên là Hương, cô giáo Hương đến tìm Nguyễn và mẹ không. Mẹ Nguyễn nhỏ nhẹ đáp: Không có ai, chỉ có chị cán bộ phụ nữ huyện, trước đây cùng học đại học với Nguyễn, thi thoảng về thăm tôi, và cùng ngồi khóc với tôi, chị ấy có chồng mới hi sinh. Tiếng mẹ Nguyễn như tiếng những mảnh đời bị xé, ông Phùng vốn rất sợ những tiếng ấy, ông tự nhủ, phải đi thôi, kẻo mình bật khóc mất, ông cầm cái phong bì đã chuẩn bị sẵn đưa vào tay mẹ nói: Đơn vị có chút quà biếu mẹ và ông dặn: Nếu có ai tên là Hương, cô giáo Hương đến tìm mẹ hỏi Nguyễn, mẹ giữ lại, đó là vợ của Nguyễn đấy.

Tay mẹ Nguyễn run lên bần bật, giọng mẹ nghẹn lại: Em nó có vợ? Thế đã có con chưa, bây giờ chị ấy ở đâu? Ông Phùng vừa đứng lên vừa trả lời: Chúng con cũng chỉ biết Nguyễn có vợ, còn vợ Nguyễn bây giờ ở đâu chúng con cũng không biết, nếu có tin gì về cô giáo Hương, mẹ viết thư hay nhờ người viết thư báo ngay cho chúng con, địa chỉ của con và của đơn vị con đã ghi ở ngoài phong bì, mẹ nhớ lời con dặn, thôi con đi đây.

Làm việc với Bộ Tổng tham mưu xong ông được nghỉ ba ngày trước khi trở lại chiến trường. Hôm sau ông lại xin xe và đi đến cái tỉnh năm xưa Hương dạy học. Ở Ty giáo dục, người ta cho ông biết cả tỉnh có ba cô giáo tên là Hương, hai cô quê ở địa phương này, một cô ở Hà Nam, cô này đã bị kỷ luật buộc thôi việc vì chửa hoang, vi phạm đạo đức nhà giáo.

Ông Phùng mừng quá, ông tin rằng mình đã tìm thấy Hương, như thế là Nguyễn đã có con. Ông nghĩ ngay đến những việc phải làm, để mẹ Nguyễn gặp con dâu và cháu nội, để mẹ con Hương được hưởng chính sách vợ con liệt sĩ, và để Hương trở lại là cô giáo. Ông lặn lội tìm đến ngôi trường mà Hương đã từng dạy học, ông xin địa chỉ của cô, nhưng tất cả giáo viên ở trong trường không một ai biết hiện nay Hương ở đâu, làm gì. Ông thẫn thờ như đứng trước một cái ngõ cụt, không biết rẽ về đâu. Nhưng rồi ông vẫn còn lóe lên một tia hi vọng, ông xin địa chỉ quê quán của Hương, và ông lại vội vã đi về nơi ấy. Nhưng càng đi ông càng thất vọng, trong lòng càng nặng trĩu: Bố Hương đang ở trại tâm thần, từ khi nghe tin Hương chửa hoang và bị đuổi việc, ông hóa điên, ba người anh trai của Hương thì hai đã thành liệt sĩ, và từ ngày bị kỷ luật buộc thôi việc, bụng mang dạ chửa, Hương cũng có về quê đâu, dân làng và tất cả những người thân của Hương, cũng không ai biết bây giờ Hương ở đâu, làm gì, còn hay mất.

Hôm sau ông trở lại chiến trường.

*

Đêm ở rừng cao su hình như dài hơn ở những nơi khác. Thủ trưởng Phùng cứ trầm ngâm ngồi suy nghĩ và hồi tưởng. Chẳng ai đoán được tuổi của ông, có lúc ông già như một người ngoài năm mươi, có lúc ông trẻ như chỉ mới ba mươi.  Từ ngày vợ ông mất ở rừng Trường Sơn, chưa bao giờ ông để ý tới một người con gái nào. Thế mà nhiều đêm nay, một người con gái ông chưa từng gặp mặt cứ hiện lên trước mặt ông, đôi mắt cô cứ nhìn xoáy vào ông. Và ông thấy cô gái xơ xác như một tàu là chuối trong giông bão, rồi ông cảm thấy tuyệt vọng, bao năm rồi tất cả những địa chỉ ông để lại ở miền Bắc, chưa một nơi nào hồi âm…

Nhưng rồi trong ông lại bùng cháy một niềm tin, nhất định cô gái ấy sẽ đứng vững được, đôi mắt của cô, giọng nói của cô, dáng vẻ của cô, không có cơn bão giông nào vùi dập được, nhất định sẽ có ngày… Ông còn đang đắm chìm vào những hình ảnh, những suy nghĩ ấy, thì người chiến sĩ cảnh vệ đột ngột bước vào, anh đứng nghiêm, nói nhấn từng tiếng: Báo cáo thủ trưởng, có điện khẩn của cấp trên, yêu cầu thủ trưởng đi ngủ để lấy sức ngày mai chiến đấu.

Ông Phùng thẳng người ưỡn ngực, ông cũng nhấn từng tiếng: Xin tuân lệnh cấp trên. Một vị tướng, một lính cảnh vệ ôm nhau cười.  Ông Phùng vừa đi nằm vừa nghĩ: Tay này mà gặp Nam Láu, chắc hợp “cạ” lắm. Rồi bỗng dưng ông như thấy mình đã gặp Hương ở đâu, hình như ở trận chống càn trong khu cháy Hà Nam, vùng chiêm trũng năm xưa. Hương tay dắt đứa con tay cầm cái túi thổ cẩm, cái áo bông màu cỏ úa cô mặc không phủ bằng được bộ ngực căng phồng của cô. Hương chỉ tay vào đứa trẻ rồi bảo: Con của anh Nguyễn đấy, nó chưa có giấy khai sinh, anh khai sinh cho nó đi.

Hương lại dắt tay ông đến một ngôi nhà ven suối, Hương bảo: Em tránh bão ở đây lâu lắm rồi, anh đưa em về đi, đừng bắt em cứ mãi mãi là Vọng Phu.

Hương chạy, hai bím tóc của cô vắt đi vắt lại, nổi lên một cơn gió đưa hai người về một ngôi nhà có cái chõng tre và bát nước vối nghi ngút khói thơm. Hương bảo: Anh trông con để em lên lớp, thằng bé có khai sinh rồi, bố em đã vác cày ra đồng, em đã trở lại nguyên vẹn là một cô giáo ở mái trường có cái suối nước nóng của anh, em cũng có mẹ rồi, mẹ không héo hắt như ngày anh về nữa, chỉ có nỗi cô đơn là vẫn còn.

Đã vậy thì mình vẫn phải chạy, và ông chạy, mồ hôi ướt sũng cả cái mũ cối và ngôi sao vàng năm cánh. Ông dừng lại, nép mình vào một mái hiên. Hương đang ngồi soạn bài, cái áo dệt kim đông xuân bó sát lấy người, càng làm nổi lên những đường cong cơ thể của một người con gái đang ở tuổi hồi xuân. Hương sẽ hỏi: Ai đấy? Anh đây mà, anh là Nguyễn Phùng đây! Ông sẽ trả lời như thế và sẽ dũng cảm nói: Em có bằng lòng cho anh xóa đi nỗi cô đơn của em không.

Ngày mai mở màn chiến dịch tổng tấn công.

(Nguồn: Văn nghệ số 25/2014)

Cùng Danh Mục:

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>