Đôi lời về những mẫu truyện ngắn lịch sử tham gia dự thi trên Văn nghệ Quân đội (2013-2014)

TÂM ANH

Tính đến những ngày cuối tháng 6 này, cuộc thi Văn nghệ Quân đội (2013-2014) đã trải qua được 2/3 chặng đường. Với gần 80 truyện ngắn dự thi được đăng tải trong 29 số tạp chí, đã xuất hiện nhiều tín hiệu tích cực, xuất hiện nhiều “cánh én” báo hiệu một “mùa vàng” giải thưởng. Và một trong những cánh én làm nên sức hấp dẫn và sự thắng lợi của cuộc thi lần này theo tôi là những truyện ngắn dự thi viết về lịch sử. So với mảng đề tài “ruột” chiến tranh cách mạng và người lính hôm nay, dự thi trên Văn nghệ Quân đội có số lượng không bằng. Nhưng “quý hồ tinh bất quý hồ đa”, các đã đăng tải trên các số tạp chí trong hai năm qua đều rất đáng đọc, đáng ngẫm và đáng bàn trên nhiều phương diện. Trong bài viết nhỏ này, chỉ xin trình bày một vài đặc điểm nổi bật nhất của chùm dự thi kể trên mà bản thân thu lượm được trong quá trình đọc.

write science fiction novel 800x800 Đôi lời về những mẫu truyện ngắn lịch sử tham gia dự thi trên Văn nghệ Quân đội (2013 2014)

Thứ nhất, các truyện ngắn lịch sử dự thi đều được viết trên tinh thần, quan điểm mới về lịch sử. Lịch sử, đối với các tác giả cũng “như là hư cấu” (chữ của nhà nghiên cứu Phan Tuấn Anh), là “cơn cớ”, là “mắc áo” cho người viết treo vào đó những tư tưởng của mình. Các yếu tố cốt lõi làm nên một truyện ngắn lịch sử gồm triều đại, nhân vật và sự kiện tiêu biểu được các tác giả dự thi lần này như Đinh Phương, Quan Nam Trường Định, Vũ Thanh Lịch, Nguyễn Thị Kim Hòa, Phạm Thuận Thành… tối giản hóa một cách triệt để. Triều đại, sự kiện được nhắc thoáng qua. Còn nhân vật lịch sử đơn thuần là những cái tên có thực, những “nguyên mẫu” để từ đó các tác giả thỏa sức sáng tạo ra những “biến thể” theo quan niệm của riêng mình. Các truyện ngắn đã hoàn toàn thoát ly khỏi xu hướng nệ sử, thuật sử. Chất sử đã được (hay bị) chất văn chương lấn át. Một thay đổi mang tính chất bước ngoặt, vô cùng quan trọng. Rõ ràng, với một tác phẩm văn học thì cái cốt yếu nhất vẫn là văn chương chứ không thể là lịch sử. Mặt khác, các truyện ngắn lịch sử dự thi lần này cũng “đoạn tuyệt” hẳn với khuynh hướng tụng sử. Nếu như ở cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ Quân đội gần đây nhất (2008-2009), chúng ta còn được thưởng thức khúc tráng ca Cửa Bắc viết về người anh hùng Hoàng Diệu của Nguyễn Anh Vũ, khúc khải hoàn ca về chiến thắng quân Nguyên xâm lược của nhà Trần trong Nước mắt sông Cầm của Uông Triều thì đến cuộc thi hiện tại, những âm hưởng như trên được thay thế bằng những khúc bi sử thấm đẫm máu và nước mắt của những người đàn bà và người nông dân thân phận như rơm rạ, như cỏ gianh. Ngay cả ở tác phẩm có hơi hướng tụng ca duy nhất là Đào muộn nở bên thềm Rồng viết về Nguyễn Huệ của Quan Nam Trường Định thì cái bi vẫn chiếm không khí chủ đạo. Vua Quang Trung băng hà ở tuổi ba chín để lại một đất nước còn trăm mối ngổn ngang sau đại thắng quân Thanh xâm lược. Cái kết “Bốn cổng Đại Thành rung lên từng hồi bi lụy chiêng và trống! Buồn não gieo khắp non sông nỗi đau đứt từng khúc ruột, lẫn trong tiếng nước mắt thương khóc của đất trời!” là điềm báo về tương lai u ám của Đại Việt sau sự ra đi đột ngột của người anh hùng áo vải cờ đào.

Thứ hai, mang tính chất bi sử nên các truyện ngắn lịch sử dự thi đều tựa vào những thời khắc đất nước đang trải qua những biến cố quan trọng, ảnh hưởng đến vận mệnh của một triều đại, của dân tộc. Lau lách chiều trắng xóa, Chuyến trở về của cỏ của Đinh Phương lấy bối cảnh triều Trần những tháng ngày suy vi, khi ánh hào quang ba lần chống quân Nguyên Mông xâm lược đã không che khuất nổi thực tại đau đớn rằng vua tôi nhà Trần đang bỏ Thăng Long chạy tán loạn trước sự xâm lược của quân Chiêm Thành, một đạo quân chưa bao giờ được xem là đối thủ xứng tầm với đội quân “Sát Thát” danh chấn thiên hạ ngày trước. Hương thôn dã của Nguyễn Thị Kim Hòa lấy bối cảnh đất nước thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, thiên hạ hỗn loạn, một mình tuyên phi Đặng Thị Huệ và “cậu trời” Đặng Mậu Lân thao túng cả bầu trời Thăng Long. Tinh ốc cụ của Bùi Thanh Ninh, Nợ anh hùng của Hương Thị tuy không nói rõ triều đại nào nhưng đều lấy bối cảnh làng xã Việt Nam thời phong kiến với đầy những nghịch cảnh nhiễu nhương. Viên quan huyện trong Tinh ốc cụ tham lam vô độ, một tay muốn vơ hết sản vật của đất trời vào túi của riêng mình. Làng trong Nợ anh hùng có hủ tục dâng con gái nhà lành cho hổ ăn thịt nhằm cầu an….

Thứ ba, trên bối cảnh đất nước thời tao loạn ấy, như đã nói ở trên, các nhà văn không hẹn mà gặp đều tập trung xoáy sâu vào thân phận người phụ nữ. Bên cạnh những nhân vật lưu tên trong lịch sử như Nguyễn Thị Lộ – vợ quan hành khiển Nguyễn Trãi trong Cô giáo Hoàng cung của Phạm Thuận Thành, tuyên phi Đặng Thị Huệ trong Hương thôn dã của Nguyễn Thị Kim Hòa, Lý Chiêu Hoàng trong Chiều ký ức phủ gai của Đinh Phương là những nhân vật hư cấu như “tôi” (Chiều ký ức phủ gai), người mẹ, Lê (Lau lách chiều trắng xóa), mẹ, người vợ (Chuyến trở về của cỏ), Thứ (Nợ anh hùng), cô gái bán đào (Đào muộn nở bên thềm Rồng)… Dẫu là nhân vật có thật hay hư cấu, là người ở chốn trướng rủ màn che hay nơi thôn quê chân lấm tay bùn, họ đều gặp nhau ở một điểm chung: phải chịu sự trêu ngươi của tạo hóa. Mỗi người một thân phận, một hoàn cảnh, một nỗi khổ, một niềm tủi nhục riêng. Người mẹ (Lau lách chiều trắng xóa) tủi nhục vì bị quân Chiêm Thành hãm hiếp, khổ vì cả cuộc đời còn lại sống trong ảo mộng rằng con trai mình sẽ làm vua; Lê khổ mồ côi, cha bị người đời giẫm đạp khi chạy loạn cho đến chết. Mẹ, người vợ nhân vật “tôi” (Chuyến trở về của cỏ) cả đời chỉ mong có một bữa no. Thứ (Nợ anh hùng) mong mỏi từng ngày thoát khỏi cái tiếng “người hùng đánh hổ” của làng để trở về làm một người đàn bà, một người vợ đúng nghĩa. Dương hoàng hậu (Lau lách chiều trắng xóa) chịu cảnh cô đơn vật vã kéo dài vì khao khát yêu thương rất bản năng, rất đàn bà của mình không được Tiên Hoàng đáp ứng vì những lý do liên quan đến chính trị. Nguyễn Thị Lộ, Ngọc Dao, Nhật Lệ, Nguyễn Thị Anh (Cô giáo hoàng cung)… ngày đêm hao tâm tổn trí, tìm cách hãm hại tình địch đặng giành quyền sủng ái của đấng chí tôn để sau đó tất cả đều nhận phần thua về mình. Tuyên phi Đặng Thị Huệ (Hương thôn dã) sau những ngày tháng vinh hoa tột đỉnh khi bị giam trong lãnh cung đã phải thốt lên rằng “Đàn bà chốn cung cấm đau khổ, tị hiềm, thù hận nhau quanh đi quẩn lại cũng vì một chữ Tình”. Lý Chiêu Hoàng (Chiều ký ức phủ gai) mang nỗi u uẩn của một vị vua không quyền lực, bất lực chứng kiến nhà Trần mỗi ngày lại bước những bước cao hơn trên điện ngọc.

Người phụ nữ trong các triều đại phong kiến luôn phải chịu nhiều thiệt thòi. Trong thời tao loạn, cái thiệt thòi lại tăng lên gấp bội. Họ dễ biến thành một “vật” trao đổi, một “quân cờ” trong “trò chơi vương quyền” của những người đàn ông. Tùy vào thế cục mà người phụ nữ có những hoàn cảnh, thân phận khác nhau. Thân phận của Đặng Thị Huệ khác với Nguyễn Thị Anh, càng khác với Lý Chiêu Hoàng, với Dương hoàng hậu. Những thân phận ấy được hiện lên trên trang viết thông qua bút pháp dòng ý thức với vị trí người kể chuyện dành cho chính họ ở ngôi thứ nhất. Thủ pháp này vừa gia tăng độ tin cậy trong câu chuyện, vừa giúp các tác giả thỏa sức tung hoành, khám phá, sục sạo mọi ngóc ngách trong tâm hồn vốn dĩ sâu thẳm, khó đoán của một nửa nhân loại. Cuộc đời của những Nguyễn Thị Anh, Đặng Thị Huệ hiện lên thông qua những dòng tâm trạng miên man không dứt của họ về quá khứ. Như vậy, lịch sử được tái hiện không phải qua những trận chiến, những ông vua, bậc danh tướng, công hầu mà qua lăng kính thân phận của những người phụ nữ. Đây là điểm chung khá thú vị của các truyện ngắn lịch sử dự thi lần này. Chủ tâm xoáy sâu vào thân phận người phụ nữ, nên chúng ta không ngạc nhiên khi thấy các nhân vật lịch sử nam được khắc họa khá nhạt nhòa bằng “nghệ thuật miêu tả cái vắng mặt”. Ngoại trừ vua Đinh Tiên Hoàng trong Mây vờn trên đỉnh Mã Yên của Vũ Thanh Lịch được khắc họa tương đối kỹ càng, còn chúa Trịnh Sâm, vua Quang Trung, thái sư Trần Thủ Độ, vua Lê Thái Tông… đều xuất hiện gián tiếp, thoáng qua trong những dòng hồi ức, qua lời thoại của những nhân vật khác.

Thứ tư, điểm sáng trong dòng truyện ngắn lịch sử dự thi lần này là tác giả Đinh Phương. Mặc dù còn rất trẻ (sinh năm 1989), nhưng Đinh Phương đã có 3 truyện ngắn dự thi lấy cảm hứng từ triều đại nhà Trần gồm Lau lách chiều trắng xóa, Chiều ký ức phủ gai và Chuyến trở về của cỏ. Các truyện ngắn dự thi của Đinh Phương có chi tiết ám ảnh người đọc, được xây dựng trên một kết cấu vững chắc (câu chuyện khởi phát từ một gia đình nông dân nghèo với người đàn ông nhu nhược, người phụ nữ mạnh mẽ, quyết đoán) và một tư tưởng nhất quán: hướng về nhân dân. Nhân dân bao giờ cũng là người chịu thiệt thòi nhất mỗi khi có biến. Nhân dân dù có ước mơ vĩ cuồng như làm vua (Lau lách chiều trắng xóa) hay có gan làm giặc (Chuyến trở về của cỏ) nhưng trước hết và sau cùng họ vẫn chỉ là người nông dân hiền lành, chân chất mong mỏi cuộc sống bình yên có đủ cơm ăn áo mặc.

 Bên cạnh tư tưởng nhất quán ấy, những nhân vật có hình, có nét, có thanh, có sắc ấy, chi tiết ảm ảnh ấy, Đinh Phương còn có những câu văn tả cảnh đẹp và gợi. Tôi thích những câu văn thế này: “Hai bên bờ là cánh đồng vừa gặt xong, trơ gốc rạ và chân nhiều đứa trẻ tróc lở, còi cọc liên tục di chuyển từ ngôi mộ này sang ngôi mộ khác. Mộ người Việt lẫn mộ người Chiêm, cũ lẫn mới. Cái chết hiện diện cùng nhau trong những nắm đất phù sa Đại Việt. Nhìn lại phía kinh thành. Lau lách hóa cờ trắng xóa buổi chiều” (Lau lách chiều trắng xóa).

Rất nhiều hy vọng vào Đinh Phương trong cuộc thi lần này. Và cũng rất mong muốn rằng sẽ lại bắt gặp nhiều truyện ngắn hay về đề tài này trong các cuộc thi tiếp theo của Văn nghệ Quân đội.

T.A

Cùng Danh Mục:

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>